Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

NHÂN CHUYỆN NGƯỜI NEW YORK “BỚI RÁC”

Hôm nay, nhiều tờ báo trong nước đồng loạt đưa tin và ảnh về việc người New York phải đi bới đống rác tìm đồ ăn. Báo Dân trí còn có đoạn: “Một nhóm người dân New York đã phải bới thùng rác bẩn thỉu để tìm thức ăn, khi họ phải trải qua đêm thứ tư bị cúp điện, và với nhiều người cũng đồng nghĩa với cúp nước.”
Một nhóm người dân
Hình ảnh gây sốc người dân New York tìm kiếm đồ ăn tại đống rác
(Ảnh và chú thích của Dân trí)
Mình chỉ xin "đính chính" thế này:
Theo quy định về "Vệ sinh an toàn thực phẩm", các cửa hàng bán đồ ăn nhanh của Mỹ sau một ngày phải thanh lý hết hàng hóa tồn đọng trong ngày. Nếu bạn lang thang ở những nơi đó vào lúc cửa hàng đóng cửa, bạn có thể "nhặt" được rất nhiều đồ ăn ngon. Một cửa hàng bánh mỳ nổi tiếng ở chợ Chelsea vào mùa hè, sau bảy giờ, các loại bánh được giảm giá 50%. Có người sẽ hỏi tại sao họ lại không đem đồ ăn đó phát cho người nghèo? Họ sợ các "thượng đế" sau khi nhận được đồ ăn miễn phí, sẽ khởi kiện nếu họ có vấn đề gì về sức khỏe. Thế thì mời các vị cứ đến đây "nhặt" mang về sử dụng và tự chịu trách nhiệm.
Tấm ảnh được các tờ báo trong nước đăng tải chụp tại nơi thanh lý hàng hóa của cửa hàng Key Food trên đại lộ A phố số 4 Lower East Side (Điểm cực Đông Nam - Manhattan). Đây là nơi bị thiệt hại nặng do cơn bảo Sandy vì mực nước biển dâng cao chưa từng thấy trong nhiều năm trở lại đây. Cửa hàng "buộc lòng" phải thanh lý toàn bộ hàng hóa vì lý do "an toàn thực phẩm" và cũng có thể họ có thế yêu cầu công ty Bảo hiểm đền bù vì thiên tai.
Nếu bạn gặp hàng tấn hàng hóa còn nguyên bao bì bị bỏ ra ngoài đường thì bạn có "xông vào" nhặt với hy vọng sẽ tiết kiệm được từ vài chục tới vài trăm đô la mua thực phẩm và nhu yếu phẩm cho gia đình mình không?
Khu Lower East Side và
Người Mỹ rất thực dụng. Khi các Starbuck cà phê phát miễn phí một ly cà phê nhỏ để giới thiệu sản phẩm mới, lập tức sẽ có một hàng dài người đợi đến lượt mình. Thực ra, nếu mua thì giá một ly khuyến mãi không tới 1$.
Khu Lower East Side và
Hãy nhìn những gì người đàn ông này “bới” được từ đống rác thì bạn có thể kết luận có “bẩn thỉu” hay không.
Cách đây vài năm, một số hãng mỹ phẩm bị phát hiện đã bán giá quá cao, làm thiệt hại cho người tiêu dùng, chính quyền thành phố NY đã bắt các hãng đó phải phát quà miễn phí cho người dân. Trước cửa hàng Marcy’s ở khắp nơi, từng đoàn người xếp hàng rồng rắn chỉ để nhận một tuýp sữa rửa mặt, lotion, hoặc một thỏi son. Mình cũng đã từng rất thích thú đợi cả tiếng đồng hồ để nhận đồ miễn phí như vậy.
Nguồn: Thanh Chung

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

SỬA LẶT VẶT

Tôi chưa nhìn thấy toàn văn bản Hiến pháp sửa đổi, nhưng với những gì mà báo chí đang đưa tin thì tôi thấy rằng sửa đổi bản Hiến pháp chỉ là lặt vặt. Một số người ca ngợi bản Hiến pháp sửa đổi tăng quyền cho Chủ tịch nước. Nhưng là một người từng nêu ra ý tưởng tăng quyền cho Chủ tich nước, ngược lại với những người ca ngợi đó, tôi không thấy có những bước tiến đáng kể. Bản Hiến pháp 1992 đã khẳng định Chủ tịch nước lãnh đạo toàn diện nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại, là thống lĩnh lực lượng vũ trang và Chủ tịch hội đồng an ninh quốc phòng... Do vậy bản Hiến pháp sửa đổi cũng không khác gì bản Hiến pháp cũ. Những thay đổi lặt vặt như phong hàm cho tướng lĩnh, hay bãi bỏ văn bản do Thủ tướng ban hành ... thực chất không có giá trị thực tiễn gì. Như vậy vấn đề Chủ tịch nước được tăng quyền lực hay không vẫn không phải là vấn đề mang tính pháp lý, mà vẫn là vấn đề mang tính thực tiễn. Ngay hiện nay, nếu Chủ tịch nước đủ mạnh thì ông vẫn có thể tăng được thực lực nắm quyền của mình mà không cần phải chờ đợi một bản Hiến pháp mới.

Chuyện hợp nhất Tổng bí thư với Chủ tịch nước cũng không phải là vấn đề mà người dân được hưởng lợi nếu quả thật bản Hiến pháp mới có sửa đổi như vậy. Người dân chỉ nên quan tâm ở bản Hiến pháp sửa đổi hai vấn đề cốt lõi trong tình thế hiện nay: tòa án Hiến pháp và quyền phúc quyết. Tất cả những sửa đổi khác chỉ là sửa lặt vặt, chẳng có giá trị cốt lõi gì và chẳng đáng quan tâm, bởi vì chúng không đem lại quyền lợi căn bản cho người dân. Một số người có thể có ảo tưởng về quyền cơ bản của công dân, ví dụ như bản Hiến pháp sửa đổi có thể đưa ra một số quyền cơ bản của công dân, bị điều chỉnh bằng luật, nhưng nếu chưa có luật thì công dân vẫn có quyền thực hiện quyền cơ bản đó. Nghe thì thấy có vẻ hay nhưng tôi cho rằng thực tiễn sẽ không phải như vậy nếu không có tòa án Hiến pháp và quyền phúc quyết của nhân dân. Tôi lấy ví dụ chẳng hạn quyền biểu tình. Giả sử như bản Hiến pháp sửa đổi có quy định quyền biểu tình là quyền hiến định và được điều chỉnh bằng luật nhưng nếu như chưa có luật ban hành thì người dân vẫn có quyền thực hiện biểu tình. Thực tế tôi nghĩ sẽ không như vậy. Ngay cả khi chưa có luật thì vẫn có các văn bản dưới luật như Nghị định 38 điều chỉnh quyền biểu tình. Vậy quyền biểu tình có bị hạn chế bởi Nghị định hay không? Chính phủ sẽ bảo là có, người dân có thể nói là không. Vậy ai giải quyết bất đồng này nếu không có tòa án Hiến pháp. Nếu tòa án Hiến pháp không có thì chắc chắn Chính phủ sẽ nắm đằng chuôi, còn người dân chỉ nắm đằng lưỡi thôi. Do vậy đừng có ảo tưởng với những ngôn từ lấp lánh của bản Hiến pháp khi những vấn đề cốt lõi người dân không có cửa. Chuyện người dân có thể thay đổi được Nghị định là chuyện không tưởng, và thực chất ngay cả khi có tòa án Hiến pháp cũng không phải dễ dàng gì, nhưng ít nhất còn có cửa hy vọng.

Phải nắm lấy những vấn đề cốt lõi, đừng để những thứ lặt vặt hay ngôn từ lấp lánh lừa phỉnh. Đừng để những tiểu tiết che mắt hay đánh lạc hướng khỏi những điểm nền tảng thiết thực cho quyền của chính mình.  

Nguồn: Đông A 

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

CANH GÀ THỌ XƯƠNG ĐÚNG LÀ ... CANH GÀ?

“Nguyên bản cuốn Vân Đình Dương Khuê Thượng Thư Tiên Sinh Thi Tập hiện đang lưu trữ tại thư Viện nghiên cứu Hán Nôm. Sách này có chép bài thơ mang tên Tối ức Thọ Xương thang (Nhớ nhất canh Thọ Xương) của Dương Khuê”

Nguyên văn viết: 裊裊搖風竹,蒼蒼鎮武鐘,壽昌多故舊,同買燉雞湯。煙鎖西湖水,杵驚安泰鄉,河城斯美景,最耐客思量
“Niểu niểu dao phong trúc, thương thương Trấn Vũ chung, Thọ Xương đa cố cựu, đồng mãi đốn kê thang. Yên tỏa Tây Hồ thủy, chử kinh Yên Thái hương, Hà thành tư mỹ cảnh, tối nại khách tư lương.”
Dịch nghĩa nôm na: Gió lay trúc phất phơ, chuông Trấn Vũ xa thẳm, quán Thọ Xương nhiều ông bạn cũ, đều đến mua canh gà hầm. Khói sương vây bủa mặt nước hồ Tây, nhịp chày kinh động làng Yên Thái, cảnh đẹp này của Hà Thành, khiến khách nhớ nhung nhất.
Phía dưới có một dòng chữ nhỏ, chú rằng “sau khi bài này làm ra, sĩ phu tranh nhau ngâm tụng. Bà Thọ chủ quán Thọ Xương mắng tiếng, đích thân đến nhà ta xin chữ, song lại cầu ta diễn ra quốc âm ngõ hầu hiểu được trọn nghĩa.
Ta liền bỏ hai câu cuối mà diễn lại rằng:
“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mùng khói tỏa ngàn sương
Dịp chày Yên Thái mặt gương Tây hồ.”
Thế là đã rõ nhé. Nếu tích trên có thật thì canh gà Thọ Xương đúng mà món canh gà, chẳng phải tiếng gà gáy sang canh như các nhà văn, nhà thơ đã tưởng.
Phát hiện này mà đúng thì đó là sự kiện động trời trong văn học.
 Hiệu Minh blog

THỌ XƯƠNG LÀ THỌ XƯƠNG NÀO?

Đi trên phố Phủ Doãn, nếu để ý sẽ thấy một ngõ khá to nằm giữa Ấu Triệu, Ngõ Huyện và xa hơn một chút là phố Chân Cầm.
Nói Chân Cầm chắc nhiều người sẽ nhớ đến hàng miến lươn và đặc biệt là bia Sửu, nay đã chuyển địa điểm. Ngõ Huyện thì hồi trước là karaoke, nay là cà phê, đầu ngõ phía Lý Quốc Sư là hàng cháo sườn buổi chiều rất là đông khách.
Còn Ấu Triệu thì quá nổi tiếng nhờ …Nhà Thờ và các quán cà phê như La Palace và các hàng trà chanh chém gió góc Lý Quốc Sư.
Nhưng cái ngõ kia thì ít người để ý , vì nó chẳng có gì đặc biệt, ngoài cái tên: “Ngõ Thọ Xương”.
Ngõ Thọ Xương là di sản hiếm hoi còn sót lại của huyện Thọ Xương thuộc tỉnh Hà Nội.
Nếu con gà ở đây gáy mà ngoài hồ Tây nghe thấy, hẳn con gà ấy phải to hơn con bò. Còn người đứng ở hồ Tây mà nghe thấy gà ở ngõ Thọ Xương gáy thì tai to hơn tai con bò.
Không biết ai đó trong chính quyền Hà Nội sau năm 1954 còn nhớ đến huyện Thọ Xương tỉnh Hà Nội mà đặt tên Thọ Xương cho cái ngõ này, vốn trước đó có tên Pháp là “ruelle Père Dronet”.
Thọ Xương là một địa danh hơi hơi lâu đời, trước là Vĩnh Xương, sau đến nhà Mạc đổi thành Thọ Xương và tồn tại mãi đến nhà Nguyễn. Thời Gia Long thì Thọ Xương thuộc phủ Hoài Đức. Đến thời Minh Mạng làm vua, cải cách hành chính đất nước, ông lập tỉnh Hà Nội, có bốn phủ (1831). Trong bốn phủ có phủ Hoài Đức, trong phủ Hoài Đức có huyện Thọ Xương, trong huyện Thọ Xương có phường Báo Thiên tức là khu Hồ Gươm Nhà Thờ bây giờ.
Cuộc cải cách hành chính sâu rộng của Minh Mạng đã gây ra sự bất mãn của đám quan lại và quý tộc địa phương, dẫn tới các cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi, Phan Bá Vành và Nông Văn Vân, đã có tác động không nhỏ đến sự suy tàn và sụp đổ hẳn của Thăng Long.
Chỉ hơn 40 năm sau khi tỉnh Hà Nội được thành lập thì triều đình Huế ký hiệp ước Philastre với Pháp (năm 1874, sau cái chết của Garnier). Từ Hiệp ước này, người Pháp được mua đất và mở các cơ sở kinh doanh ở Hà Nội. Khu vực người Pháp mua chính là khu đất từ phía Hồ Gươm bên này (bên kia là khu phố thương mại hay còn được biết đến với tên Kẻ Chợ) kéo qua khu đầm lầy đến Đồn Thủy. Khu đất này chính là phần đất của huyện Thọ Xương (tương ứng với một phần Hoàn Kiếm và hầu hết phần Hai Bà Trưng cộng một phần Đống Đa ngày nay).
Một năm sau khi Riviere bị quân Cờ Đen bắn chết, tức là năm 1884, quân Pháp đánh quân nhà Thanh bật ra khỏi miền bắc, sau đó ký hiệp ước với triều đình Huế và chính thức biến Hà Nội thành vùng đất do chính phủ Pháp bảo hộ. Thọ Xương đương nhiên trở thành địa danh chết.
Câu chuyện Pháp mua đất làm khu Nhượng Địa, rồi sau đó tái thiết Hà Nội, có thể xem thêm ở đây.
***
Dương Khuê (1839-1902) đã sống và làm quan nhà Nguyễn đúng vào thời kỳ này. Nhưng là ông quan chán đời, chán chính quyền và có tư tưởng chống Pháp. Sau 1884 thì ông từ quan để hưởng thú ăn chơi đặc biệt là món ca trù. Có lẽ ông vẫn nhớ đến huyện Thọ Xương và sự biến mất khi trở thành khu nhượng địa của người Pháp.
Rất có thể trong lúc đi ăn đi chơi, từ lúc làm quan đến lúc làm dân, từ miền trung ra miền bắc, ông đã vô tình biết hai câu thơ (hò?) Huế mà sau này năm 1918 ông Phạm Quỳnh đi chơi như là điền dã Huế đã chép lại và đăng trên Nam Phong. Dương Khuê đã giữ lại một câu, phóng tác câu đầu và viết thêm hai câu đuôi. Thế là ngày nay chúng ta có Hà nội tức cảnh hay còn gọi là Trăng nước hồ Tây.
Sở dĩ nói hai câu kia có gốc Huế bởi Thiên Mụ và Thọ Xương là hai địa danh cụ thể ở hai bên sông Hương, nghe chuông bên này nghe gà bên kia được. Khác với Trấn Vũ và huyện Thọ Xương không chỉ xa nhau mà Thọ Xương là một cái huyện to tướng không cân đối gì với một cái đền (Trấn Vũ) hay một cái chùa (Thiên Mụ).
Còn Thọ Xương ở Huế, có lẽ là một cái gò cao, hình như trên đó có nhà để nuôi các hoàng tử. Tên gọi “Thọ Khương Thượng Khố”. Khi Gia Long lên ngôi thì đổi tên thành Thọ Xương vì kỵ húy Hiếu Khương Hoàng Đế (1802). Khi Minh Mạng làm vua, ông lại đổi tên thành Long Thọ Cương (1824). Còn còn cái tên Thọ Xương thì Minh Mạng chỉ sử dụng cho huyện Thọ Xương ở tỉnh Hà Nội.
Bên này là chuông đêm của tháp chùa bảy tầng, bên kia sông, sau bờ (ngàn) sương khói, là tiếng gà lúc gần sáng của ngôi nhà quý tộc trên gò cao. Thế vừa là có lý vừa phảng phất không khí Phong kiều dạ bạc. Để rồi mấy chục năm sau câu hò ấy lạc bước ra Thăng Long để xuống Hồ Tây còn Phạm Quỳnh thì nhầm tưởng Thọ Xương là làng (thực ra có cái làng chài thật thì phải, tên là Thọ Khương nằm sát bên làng Nguyệt Biều).
Thế là từ Huế một câu thơ lạc bước ra Hà Nội. Một nhà gò sông Hương chuyển về tận hồ Tây. Chứ không phải là Phạm Quỳnh nhầm, đi chơi Huế mà nhặt hai câu lục bát Dương Khuê rồi bảo cứ bảo là của người Huế.
Hay nói cách khác, câu thơ gốc phải là của người Huế, và nguyên bản như sau: “Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ xương”.
***
Phạm Quỳnh viết (tháng 4 -1918 trên Nam Phong):
Cả cái hồn thơ của xứ Huế như chan chứa trong hai câu ca ấy. Chùa Thiên Mụ là một chốn danh lam, có cái tháp bảy tầng, làng Thọ Xương thì ở bờ bên kia. Đêm khuya nghe tiếng chuông chùa với tiếng gà gáy xa đưa văng vẳng ở giữa khoảng giời nước long lanh mà cảm đặt thành câu ca.
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương
Dương Khuê sáng tác:
Trăng nước Hồ Tây
Phất phơ ngọn trúc trăng tà
Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương
Mịt mùng khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây hồ
Bản dân gian sau này sưu tầm được ở Huế
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương.
Thuyền về xuôi mái dòng Hương,
Biết mô tâm sự đôi đường đắng cay? (hoặc Có nghe/biết đâu tâm sự đôi đường đắng cay)
Nôm na kết luận thế này. Một là Thọ Xương ở Huế có trước. Thọ Xương Hà nội có sau. Khi Dương Khuê sáng tác Hà nội tức cảnh thì cả hai địa danh này đều đã chết. Ở Huế chết trước, ở Hà nội chết sau. Hai là câu thơ Phạm Quỳnh chép lại, không phải do ông ấy bịa ra, mà ông ấy chép lại từ (câu hò?) của người dân kinh thành Huế. Tức là ở đây có thể có hai giả thuyết.
Giả thuyết 1: Dương Khuê đi chơi Huế, hoặc tình cờ sao đó, biết được hai câu hò Huế. Sau đó ông đã sử dụng một câu làm chất liệu để sáng tác bài thơ Hà Nội Tức Cảnh. Việc dùng material của văn hóa dân gian để đưa vào sáng tác mới là việc hết sức bình thường. Một ví dụ điển hình là Ngẫu hứng ngựa ô của Trần tiến.
Giả thuyết 2: Sáng tác gốc là của Dương Khuê, bị folklore hóa, rồi trở thành hò Huế. Việc một sáng tác bị folklore và trở thành tác phẩm dân gian khuyết danh là hết sức bình thường (Tát nước bên đàng, Anh đi anh nhớ quê nhà … là các tác phẩm như vậy). Nhưng folklore một bài thơ tả cảnh tỉnh lẻ Hà Nội mà đi vào kinh đô Huế để trở thành hò (dân ca) địa phương thì hơi khó.
Blog 5xu